Thứ Bảy, 13 tháng 4, 2013

Điều trị viêm gan B


Theo thống kê, con số gần đúng cảnh báo cho những ca benh gan B trên thế giới đã xấp xỉ 450 triệu người. Trong thời gian gần đây, con số này tăng lên ở mức báo động. Rõ ràng, việc nghiên cứu, tìm hiểu, để phát hiện sớm và điều trị hiệu quả viêm gan B là vô cùng cần thiết. Ở bài viết này, chúng tôi xin đề cập các kiến thức liên quan đến quá trình dieu tri benh viem gan B, khi nào bắt đầu, hướng điều trị và khi nào thì ngưng điều trị cho người bệnh viêm gan B. Mời bạn đọc tham khảo.

Đã có nhiều tiến bộ trong việc điều trị viêm gan B trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, các phương pháp điều trị hiện nay điều không tiêu diệt được hoàn toàn virus viêm gan B (HBV). Vì vậy, hầu hết các bệnh nhân cần thời gian điều trị dài và một số thì phải điều trị suốt đời để ức chế sự phát triển của virus.

Khi nào bắt đầu điều trị?

Vì vậy, việc điều trị nên được bắt đầu ở những bệnh nhân có HBV hoạt động hoặc những người được tiên lượng có nguy cơ cao bị xơ gan hoặc ung thư gan trong tương lai gần. Mặt khác, việc điều trị có thể bị hoãn ở những bệnh nhân như thế nào? Nó bao gồm: bệnh viêm gan giai đoạn đầu và được tiên lượng sẽ có ít nguy cơ xơ gan và ung thư gan. Những bệnh nhân này nên tiếp tục được theo dõi và điều trị bắt đầu khi những dấu hiệu tiến triển phát sinh.


Ngày nay con người đã có những hiểu biết hơn về HBV và những giai đoạn phát triển của bệnh viêm gan do virus, khi một người nhiễm HBV thì quá trình sẽ tiến triển tới viêm gan mạn tính chỉ khác nhau về thời gian ủ bệnh mà thôi, do vậy mà có những người không phải điều trị bằng thuốc ngay và câu hỏi đặt ra là khi nào thì bắt đầu điều trị bằng thuốc. Việc chỉ định sử dụng thuốc cần có một số thông tin như: xét nghiệm đánh giá tình trạng sao chép của HBV, kháng thể cho thấy HBV đang hoạt động, giai đoạn của bệnh gan tại thời điểm chẩn đoán và tiên lượng nguy cơ xơ gan và ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) cho bệnh nhân.


Trước đây để chỉ định một người sử dụng thuốc thì dựa vào xét nghiệm đo hoạt độ enzym ở gan (ALT) và xét nghiệm giải phẫu bệnh đánh giá xem có tình trạng viêm hoặc xơ hóa hay không hoặc triệu chứng lâm sàng của xơ gan. Gần đây, có ý kiến ​​cho rằng việc điều trị cần phải dựa vào nồng độ virus. Một số nghiên cứu cho thấy nồng độ virus tăng cao kéo dài vài thập kỷ có liên quan với tăng nguy cơ xơ gan và ung thư gan.

Xét nghiệm máu đánh giá hoạt động ALT

Do vậy quyết định điều trị sử dụng thuốc kháng virus ở bệnh nhân viêm gan B nên xem xét các đặc điểm lâm sàng, hoạt độ ALT, nồng độ HBV DNA, và giải phẫu mô học ở gan.

Bởi vì hiện tại thì phương pháp điều trị chỉ là ngăn chặn sự phát triển HBV nhưng không tiêu diệt virus, nên hầu hết các bệnh nhân cần phải điều trị trong thời gian dài và thường xuyên, kèm theo với các rủi ro liên quan đến kháng thuốc, tác dụng phụ, và chi phí điều trị. Vì vậy, khi quyết định bắt đầu điều trị thì cũng phải dự kiến ​​thời gian điều trị và khả năng ức chế virus sau một quá trình điều trị.

Chỉ định điều trị còng tùy thuộc theo độ tuổi của bệnh nhân, trạng thái kháng nguyên e (HBeAg), để điều trị giảm nguy cơ lây nhiễm sang con ở những người phụ nữ trong độ tuổi sinh sản có nhiễm HBV, do yêu cầu nghề nghiệp hoặc nếu điều kiện của bệnh nhân cho phép.
Phương pháp điều trị?

Có 7 loại thuốc kháng virus (FDA) đã được phê duyệt để điều trị viêm gan B gồm: 2 thuốc tác động vào hệ miễn dịch là interferon (Roferon A , Intron A và pegylated ( Pegasys và PegIntron) và 5 thuốc giống nucleoside / nucleotide là thuốc kháng virus : lamivudine [Epivir-HBV] , adefovir [Hepsera] , entecavir [Baraclude] , telbivudine [Tyzeka , và tenofovir Viread .

Quyết định dieu tri benh viem gan B là sự lựa chọn giữa interferon với nucleoside / nucleotide. Interferon có lợi thế là nó được sử dụng trong một thời gian không dài, chưa cáo báo cáo về thuốc này liên quan tới chủng virus đột biến kháng thuốc cụ thể, tuy nhiên người sử dụng thuốc Interferon phải được điều trị nội trú trong bệnh viện [bằng cách tiêm],với nhiều tác dụng phụ và chống chỉ định ở bệnh nhân xơ gan mất bù.

Thuốc kháng virus giống Nucleoside / nucleotide có lợi thế là :sử dụng bằng đường uống và có ít tác dụng phụ hơn, nhưng phải sử dụng thuốc trong nhiều năm và có thể dẫn đến việc phát sinh các chủng virus đột biến kháng thuốc. Trong số các thuốc trong nhóm này thì entecavir, telbivudine và tenofovir có hoạt tính kháng virus mạnh hơn.

Lựa chọn thuốc để điều trị ban đầu là rất quan trọng nhằm đạt được hiệu quả điều trị cũng như tránh phát sinh các chủng kháng thuốc.

Khi nào thì ngừng điều trị?

Interferon thường được sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định bất kể tình trạng virus bởi vì tác dụng miễn dịch của interferon có thể tồn tại sau khi ngừng điều trị. Với interferon, thời gian ngừng điều trị được đề nghị là 12 tháng đối với cả hai nhóm bệnh nhân có HBeAg dương tính và HBeAg âm tính.

Nói chung, nên tiếp tục điều trị cho đến khi bệnh nhân “sạch” virus trong các xét nghiệm. Ngừng điều trị có thể gây nên viêm gan virus tái phát, viêm gan bùng phát, và xơ gan mất bù. Vì vậy, tất cả các bệnh nhân phải được theo dõi chặt chẽ sau khi ngừng điều trị.

Khi nào thì dừng điều trị ở những người uống thuốc kháng virus thì không có hạn định. Với những người bệnh có HbeAg dương tính thì khuyến nghị chung là tiếp tục điều trị sau khi HbeAg, HBe kháng thể (anti-HBe) âm tính- hiện tượng chuyển đảo huyết thanh sau đó khoảng 6-12 tháng.Một số chuyên gia cho rằng chuyển đổi huyết thanh HBeAg không phải là tiêu chuẩn để khẳng định rằng đã điều trị thành công vì HBV vẫn còn và vẫn có khả năng sao chép. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng 50% -70% bệnh nhân có chuyển đảo huyết thanh sẽ có tình trạng lâm sàng thuyên giảm ( không thể phát hiện HBV DNA hoặc nồng độ này rất thấp và hoạt độ enzym ALT bình thường) trong nhiều năm.

Đối với nhóm bệnh nhân HbeAg âm tính thì việc điều trị có thể dừng lại khi xét nghiệm thấy bệnh nhân có HbsAg âm tính, nhưng điều đó chỉ xảy ra trong khoảng 5% bệnh nhân sau 5 năm điều trị. Đối với bệnh nhân bị xơ gan cơ bản thời gian điều trị thường là suốt đời.

Xem thêm : dấu hiệu viêm gan B | cách điều trị viêm gan B | benh gan B | bệnh viêm gan siêu vi B

Thứ Sáu, 12 tháng 4, 2013

Viêm gan B không có triệu chứng rất nguy hiểm


Viêm gan B không có triệu chứng thật ra cực kì nguy hiểm, cho đến nay rất nhiều bác sĩ đều không đề nghị chữa trị gì với bệnh nhân viêm gan B có chức năng gan bình thường, nhưng vài năm trở lại đây, thực tiễn trên lâm sàng lại chứng minh rằng, có rất nhiều bệnh nhân viêm gan B  không điều trị do chủ quan không có triệu chứng và chức năng gan bình thường, dẫn đến bệnh không ngừng chuyển biến xấu.

Viêm gan B không có triệu chứng rất nguy hiểm


Phán đoán bệnh tình thì không thể dựa vào triệu chứng, do đó khó phát hiện bệnh tình đã chuyển biến xấu đi hay chưa.

Việt Nam hiện nay có 20% dân số bị nhiễm viêm gan B, đa phần trước khi phát hiện ra viêm gan B, cơ thể không có dấu hiệu gì bất thường, nhưng đây không có nghĩa là “gió lặng, sóng yên”, bệnh biến có thể chưa có dấu hiệu gì, nhưng bệnh tình sau 1 thời gian lại tiến triển nặng hơn. Gan là cơ quan quan trọng trong cơ thể, đa phần bệnh nhân viêm gan dù cơ thể đã có triệu chứng hay chưa thì các mô ở mức độ nào đó cũng đã phần nào chuyển biến thành gan xơ hóa.

Những người mang virus viêm gan B ở lứa tuổi thiếu niên, các tổ chức mô đã có chứng viêm ở mức độ nhẹ, gan xơ hóa cũng như vậy, nhưng chức năng gan vẫn bình thường. Đây là do bệnh tình vẫn đang trong thời kì dung nạp miễn dịch, tế bào miễn dịch không thể phân biệt virus viêm gan B cũng không thể tấn công virus viêm gan B, nó tạm thời được gọi là “thời kì hòa bình” nhưng qua 1 thời gian chống chọi với chứng viêm gan, đa phần bệnh nhân đều phát bệnh ở tuổi thanh thiếu niên, trạng thái người mang virus viêm gan B chỉ là 1 giai đoạn của viêm gan B mãn tính, người mang virus viêm gan B cố định cơ bản là không có, do đó, chi dựa vào cảm giác bản thân hoặc chỉ số chức năng gan đơn giản để phán đoán bệnh tình là rất nguy hiểm.

Thêm 1 ví dụ về 1 người đàn ông 51 tuổi đã có 8 năm mắc benh gan B, hàng năm đều kiểm tra chức năng gan bình thường, chỉ số men gan có lúc cao, nhưng bác sĩ cũng không khuyên gì, không điều trị, chỉ cần sinh hoạt điều độ. Bình thường bác cũng cảm thấy không có khó chịu gì, vừa rồi đi khám lại sau khi đi ăn cưới do thấy khó chịu vùng bụng trên, siêu âm thấy bụng có 1 khối lớn, lập tức cho kiểm tra CT thì phát hiện ra ung thư gan, do đó viêm gan B mãn tính không có triệu chứng gì cực kì nguy hiểm, hay còn được gọi là “sát thủ ẩn dật” trong đó viêm gan B mãn tính trên 70% là chức năng gan bình thường, bình thường cũng không có triệu chứng gì, chỉ có rât ít bệnh nhân cảm thấy mất sức, chóng mặt buồn nôn, trướng bụng, nhưng đều cho rằng là do say rượu hay thiếu ngủ gây ra, do đó đã hiểu sai vấn đề mà  không kịp thời chữa trị.

Người mang virus viêm gan B dù không có triệu chứng nhưng cũng phải định kì đi khám, kiểm tra định lượng, định tính DNA virus viêm gan B và  các kiểm tra khác để phán đoán tình trạng bệnh.

Phòng khám chuyên gan 12 Kim Mã luôn có những gói xét nghiệm định tính và định lượng viêm gan B, viêm gan C, siêu âm gan nhằm xác định chính xác tình trạng bệnh của bệnh nhân, từ đó xây dựng phác đồ điều trị đúng đắn, giúp bệnh nhân đẩy lùi bênh tật, ngăn chặn bệnh tiến triển nặng thành xơ gan, ung thư gan.

Xem thêm : bệnh viêm gan siêu vi B | cách điều trị viêm gan B | dấu hiệu viêm gan B | dieu tri benh viem gan B