Thứ Bảy, 13 tháng 4, 2013

Điều trị viêm gan B


Theo thống kê, con số gần đúng cảnh báo cho những ca benh gan B trên thế giới đã xấp xỉ 450 triệu người. Trong thời gian gần đây, con số này tăng lên ở mức báo động. Rõ ràng, việc nghiên cứu, tìm hiểu, để phát hiện sớm và điều trị hiệu quả viêm gan B là vô cùng cần thiết. Ở bài viết này, chúng tôi xin đề cập các kiến thức liên quan đến quá trình dieu tri benh viem gan B, khi nào bắt đầu, hướng điều trị và khi nào thì ngưng điều trị cho người bệnh viêm gan B. Mời bạn đọc tham khảo.

Đã có nhiều tiến bộ trong việc điều trị viêm gan B trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, các phương pháp điều trị hiện nay điều không tiêu diệt được hoàn toàn virus viêm gan B (HBV). Vì vậy, hầu hết các bệnh nhân cần thời gian điều trị dài và một số thì phải điều trị suốt đời để ức chế sự phát triển của virus.

Khi nào bắt đầu điều trị?

Vì vậy, việc điều trị nên được bắt đầu ở những bệnh nhân có HBV hoạt động hoặc những người được tiên lượng có nguy cơ cao bị xơ gan hoặc ung thư gan trong tương lai gần. Mặt khác, việc điều trị có thể bị hoãn ở những bệnh nhân như thế nào? Nó bao gồm: bệnh viêm gan giai đoạn đầu và được tiên lượng sẽ có ít nguy cơ xơ gan và ung thư gan. Những bệnh nhân này nên tiếp tục được theo dõi và điều trị bắt đầu khi những dấu hiệu tiến triển phát sinh.


Ngày nay con người đã có những hiểu biết hơn về HBV và những giai đoạn phát triển của bệnh viêm gan do virus, khi một người nhiễm HBV thì quá trình sẽ tiến triển tới viêm gan mạn tính chỉ khác nhau về thời gian ủ bệnh mà thôi, do vậy mà có những người không phải điều trị bằng thuốc ngay và câu hỏi đặt ra là khi nào thì bắt đầu điều trị bằng thuốc. Việc chỉ định sử dụng thuốc cần có một số thông tin như: xét nghiệm đánh giá tình trạng sao chép của HBV, kháng thể cho thấy HBV đang hoạt động, giai đoạn của bệnh gan tại thời điểm chẩn đoán và tiên lượng nguy cơ xơ gan và ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) cho bệnh nhân.


Trước đây để chỉ định một người sử dụng thuốc thì dựa vào xét nghiệm đo hoạt độ enzym ở gan (ALT) và xét nghiệm giải phẫu bệnh đánh giá xem có tình trạng viêm hoặc xơ hóa hay không hoặc triệu chứng lâm sàng của xơ gan. Gần đây, có ý kiến ​​cho rằng việc điều trị cần phải dựa vào nồng độ virus. Một số nghiên cứu cho thấy nồng độ virus tăng cao kéo dài vài thập kỷ có liên quan với tăng nguy cơ xơ gan và ung thư gan.

Xét nghiệm máu đánh giá hoạt động ALT

Do vậy quyết định điều trị sử dụng thuốc kháng virus ở bệnh nhân viêm gan B nên xem xét các đặc điểm lâm sàng, hoạt độ ALT, nồng độ HBV DNA, và giải phẫu mô học ở gan.

Bởi vì hiện tại thì phương pháp điều trị chỉ là ngăn chặn sự phát triển HBV nhưng không tiêu diệt virus, nên hầu hết các bệnh nhân cần phải điều trị trong thời gian dài và thường xuyên, kèm theo với các rủi ro liên quan đến kháng thuốc, tác dụng phụ, và chi phí điều trị. Vì vậy, khi quyết định bắt đầu điều trị thì cũng phải dự kiến ​​thời gian điều trị và khả năng ức chế virus sau một quá trình điều trị.

Chỉ định điều trị còng tùy thuộc theo độ tuổi của bệnh nhân, trạng thái kháng nguyên e (HBeAg), để điều trị giảm nguy cơ lây nhiễm sang con ở những người phụ nữ trong độ tuổi sinh sản có nhiễm HBV, do yêu cầu nghề nghiệp hoặc nếu điều kiện của bệnh nhân cho phép.
Phương pháp điều trị?

Có 7 loại thuốc kháng virus (FDA) đã được phê duyệt để điều trị viêm gan B gồm: 2 thuốc tác động vào hệ miễn dịch là interferon (Roferon A , Intron A và pegylated ( Pegasys và PegIntron) và 5 thuốc giống nucleoside / nucleotide là thuốc kháng virus : lamivudine [Epivir-HBV] , adefovir [Hepsera] , entecavir [Baraclude] , telbivudine [Tyzeka , và tenofovir Viread .

Quyết định dieu tri benh viem gan B là sự lựa chọn giữa interferon với nucleoside / nucleotide. Interferon có lợi thế là nó được sử dụng trong một thời gian không dài, chưa cáo báo cáo về thuốc này liên quan tới chủng virus đột biến kháng thuốc cụ thể, tuy nhiên người sử dụng thuốc Interferon phải được điều trị nội trú trong bệnh viện [bằng cách tiêm],với nhiều tác dụng phụ và chống chỉ định ở bệnh nhân xơ gan mất bù.

Thuốc kháng virus giống Nucleoside / nucleotide có lợi thế là :sử dụng bằng đường uống và có ít tác dụng phụ hơn, nhưng phải sử dụng thuốc trong nhiều năm và có thể dẫn đến việc phát sinh các chủng virus đột biến kháng thuốc. Trong số các thuốc trong nhóm này thì entecavir, telbivudine và tenofovir có hoạt tính kháng virus mạnh hơn.

Lựa chọn thuốc để điều trị ban đầu là rất quan trọng nhằm đạt được hiệu quả điều trị cũng như tránh phát sinh các chủng kháng thuốc.

Khi nào thì ngừng điều trị?

Interferon thường được sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định bất kể tình trạng virus bởi vì tác dụng miễn dịch của interferon có thể tồn tại sau khi ngừng điều trị. Với interferon, thời gian ngừng điều trị được đề nghị là 12 tháng đối với cả hai nhóm bệnh nhân có HBeAg dương tính và HBeAg âm tính.

Nói chung, nên tiếp tục điều trị cho đến khi bệnh nhân “sạch” virus trong các xét nghiệm. Ngừng điều trị có thể gây nên viêm gan virus tái phát, viêm gan bùng phát, và xơ gan mất bù. Vì vậy, tất cả các bệnh nhân phải được theo dõi chặt chẽ sau khi ngừng điều trị.

Khi nào thì dừng điều trị ở những người uống thuốc kháng virus thì không có hạn định. Với những người bệnh có HbeAg dương tính thì khuyến nghị chung là tiếp tục điều trị sau khi HbeAg, HBe kháng thể (anti-HBe) âm tính- hiện tượng chuyển đảo huyết thanh sau đó khoảng 6-12 tháng.Một số chuyên gia cho rằng chuyển đổi huyết thanh HBeAg không phải là tiêu chuẩn để khẳng định rằng đã điều trị thành công vì HBV vẫn còn và vẫn có khả năng sao chép. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng 50% -70% bệnh nhân có chuyển đảo huyết thanh sẽ có tình trạng lâm sàng thuyên giảm ( không thể phát hiện HBV DNA hoặc nồng độ này rất thấp và hoạt độ enzym ALT bình thường) trong nhiều năm.

Đối với nhóm bệnh nhân HbeAg âm tính thì việc điều trị có thể dừng lại khi xét nghiệm thấy bệnh nhân có HbsAg âm tính, nhưng điều đó chỉ xảy ra trong khoảng 5% bệnh nhân sau 5 năm điều trị. Đối với bệnh nhân bị xơ gan cơ bản thời gian điều trị thường là suốt đời.

Xem thêm : dấu hiệu viêm gan B | cách điều trị viêm gan B | benh gan B | bệnh viêm gan siêu vi B

Thứ Sáu, 12 tháng 4, 2013

Viêm gan B không có triệu chứng rất nguy hiểm


Viêm gan B không có triệu chứng thật ra cực kì nguy hiểm, cho đến nay rất nhiều bác sĩ đều không đề nghị chữa trị gì với bệnh nhân viêm gan B có chức năng gan bình thường, nhưng vài năm trở lại đây, thực tiễn trên lâm sàng lại chứng minh rằng, có rất nhiều bệnh nhân viêm gan B  không điều trị do chủ quan không có triệu chứng và chức năng gan bình thường, dẫn đến bệnh không ngừng chuyển biến xấu.

Viêm gan B không có triệu chứng rất nguy hiểm


Phán đoán bệnh tình thì không thể dựa vào triệu chứng, do đó khó phát hiện bệnh tình đã chuyển biến xấu đi hay chưa.

Việt Nam hiện nay có 20% dân số bị nhiễm viêm gan B, đa phần trước khi phát hiện ra viêm gan B, cơ thể không có dấu hiệu gì bất thường, nhưng đây không có nghĩa là “gió lặng, sóng yên”, bệnh biến có thể chưa có dấu hiệu gì, nhưng bệnh tình sau 1 thời gian lại tiến triển nặng hơn. Gan là cơ quan quan trọng trong cơ thể, đa phần bệnh nhân viêm gan dù cơ thể đã có triệu chứng hay chưa thì các mô ở mức độ nào đó cũng đã phần nào chuyển biến thành gan xơ hóa.

Những người mang virus viêm gan B ở lứa tuổi thiếu niên, các tổ chức mô đã có chứng viêm ở mức độ nhẹ, gan xơ hóa cũng như vậy, nhưng chức năng gan vẫn bình thường. Đây là do bệnh tình vẫn đang trong thời kì dung nạp miễn dịch, tế bào miễn dịch không thể phân biệt virus viêm gan B cũng không thể tấn công virus viêm gan B, nó tạm thời được gọi là “thời kì hòa bình” nhưng qua 1 thời gian chống chọi với chứng viêm gan, đa phần bệnh nhân đều phát bệnh ở tuổi thanh thiếu niên, trạng thái người mang virus viêm gan B chỉ là 1 giai đoạn của viêm gan B mãn tính, người mang virus viêm gan B cố định cơ bản là không có, do đó, chi dựa vào cảm giác bản thân hoặc chỉ số chức năng gan đơn giản để phán đoán bệnh tình là rất nguy hiểm.

Thêm 1 ví dụ về 1 người đàn ông 51 tuổi đã có 8 năm mắc benh gan B, hàng năm đều kiểm tra chức năng gan bình thường, chỉ số men gan có lúc cao, nhưng bác sĩ cũng không khuyên gì, không điều trị, chỉ cần sinh hoạt điều độ. Bình thường bác cũng cảm thấy không có khó chịu gì, vừa rồi đi khám lại sau khi đi ăn cưới do thấy khó chịu vùng bụng trên, siêu âm thấy bụng có 1 khối lớn, lập tức cho kiểm tra CT thì phát hiện ra ung thư gan, do đó viêm gan B mãn tính không có triệu chứng gì cực kì nguy hiểm, hay còn được gọi là “sát thủ ẩn dật” trong đó viêm gan B mãn tính trên 70% là chức năng gan bình thường, bình thường cũng không có triệu chứng gì, chỉ có rât ít bệnh nhân cảm thấy mất sức, chóng mặt buồn nôn, trướng bụng, nhưng đều cho rằng là do say rượu hay thiếu ngủ gây ra, do đó đã hiểu sai vấn đề mà  không kịp thời chữa trị.

Người mang virus viêm gan B dù không có triệu chứng nhưng cũng phải định kì đi khám, kiểm tra định lượng, định tính DNA virus viêm gan B và  các kiểm tra khác để phán đoán tình trạng bệnh.

Phòng khám chuyên gan 12 Kim Mã luôn có những gói xét nghiệm định tính và định lượng viêm gan B, viêm gan C, siêu âm gan nhằm xác định chính xác tình trạng bệnh của bệnh nhân, từ đó xây dựng phác đồ điều trị đúng đắn, giúp bệnh nhân đẩy lùi bênh tật, ngăn chặn bệnh tiến triển nặng thành xơ gan, ung thư gan.

Xem thêm : bệnh viêm gan siêu vi B | cách điều trị viêm gan B | dấu hiệu viêm gan B | dieu tri benh viem gan B

Thứ Tư, 27 tháng 3, 2013

Diễm biến viêm gan siêu vi C

Tương tự như viêm gan siêu vi B và A, và thậm chí còn “thầm lặng” hơn nữa, bệnh viêm gan C thường không có bất cứ một triệu chứng đặc trưng nào. Phần lớn các biểu hiện của người bệnh đều rất chung chung, mờ nhạt.

Nói chung, sau giai đoạn viêm cấp tính sẽ có khoảng 10 đến 15% số bệnh nhân may mắn được hoàn toàn khỏi bệnh, không cần điều trị gì cả.

Từ 20 đến 25% bệnh nhân sẽ chuyển sang giai đoạn mạn tính âm thầm. Siêu vi C ở các bệnh nhân này “không hoạt động”, do đó họ không có triệu chứng gì và cũng không bị thương tổn ở gan. Những người may mắn này rất hiếm khi hoặc thậm chí có thể nói là không bao giờ chuyển sang xơ gan.

Như vậy, có từ 30 đến 40% số người nhiễm viêm gan siêu vi C sẽ thuộc vào loại “thử qua cho biết”, và sau đó không để lại hậu quả xấu nào.

Đa số các trường hợp kém may mắn hơn chiếm tỷ lệ từ 60 đến 70% sẽ chuyển sang viêm gan mạn tính thể phát triển. Trong số này, phần lớn được tiên liệu cũng không tử vong vì bệnh, vì các thương tổn của gan nhẹ và phát triển chậm. Nhưng có khoảng 20% sẽ gặp nguy hiểm sau 10 đến 20 năm vì phát triển thành xơ gan và thậm chí có thể chuyển sang ung thư gan. Tỷ lệ ung thư gan hàng năm do bệnh này có thể là từ 1 đến 5%.

Xem thêm: thuoc giai doc gan| bệnh viêm gan siêu vi B| chua benh gan nhiem mo

Thứ Hai, 25 tháng 3, 2013

Bệnh gan B không có triệu chứng rõ ràng


Bệnh gan B không có triệu chứng rõ ràng


Trong thực tế các chuyên gia đã từng nói benh gan B không có triệu chứng và biểu hiện rõ ràng mới thực sự nguy hiểm

Các chuyên gia nói :trước đây trong giới y học áp dụng viem gan b 2 cặp rưỡi và chức năng gan để phán đoán bệnh tình của bệnh nhân, nếu chức năng gan bình thường thì không cần điều trị, nhưng trên lâm sàng những năm gần đây thì rất nhiều người mang virut viêm gan B không có triệu chứng và chức năng gan có vẻ như vẫn  bình thường, dẫn đến  bệnh tình biến hóa xấu đi .

Không thể dựa vào cảm giác viêm gan B không có triệu chứng mà phán đoán bệnh viem gan B như vậy rất dễ che giấu cho sự biến hóa của bệnh tình .

Có rất nhiều bệnh nhân mà đa sỗ trong đó trước khi phát hiện ra bệnh tình, cơ thể không có bất kỳ một triệu chứng gì, nhưng không có nghĩa là trong gan không tổn thương.Bệnh có thể âm thầm biến hóa, bệnh có thể biến hóa trong một thời gian dài sau đó đột nhiên bùng phát .Gan là một bộ máy trầm lặng, đa số bệnh nhân viêm gan bất luận là cơ thể có hay không có triệu chứng, thì mô gan đều có triệu chứng viêm hoặc xơ ở những mức độ khác nhau.

Trong thực tế kiểm tra sinh thiết gan của người mang virut, phát hiện ra đại đa số người mang virut là gan đã ở trong giai đoạn viêm nhẹ ; gan xơ hóa cũng là một ví dụ, mặc dù chức năng gan là bình thường .Đây là nguyên nhân bệnh tình vẫn đang trong giai đoạn hệ miễn dịch vẫn hoạt động nhưng tế bào miễn dịch không thể nhận dạng virut viêm gan B, cũng không thể công kích virut, lúc này chúng tạm thời  “chung sống hòa bình ”.Nhưng sau một thời gian viêm thì gan bị bào mòn, hầu như bệnh nhân đều phát bệnh từ thời thanh niên, trạng thái của người mang virut viêm gan B chủ yếu là giai đoạn viêm gan b mãn tính . Vì vậy, dựa vào cảm giác của bản thân hoặc chức năng gan đơn giản mà phán đoán bệnh tình, sẽ có khả năng kéo dài bệnh tình, bỏ lỡ thời cơ chữa bệnh .

Có trường hợp bệnh nhân có bệnh sử 8 năm viêm gan B .Năm nay ông ấy 58 tuổi, mỗi năm kiểm tra chức năng gan đều bình thường,men gan hơi cao, có bác sĩ nói không sao,không cần điều trị, chú ý ăn uống và sinh hoạt là được .Bình thường ông cũng cảm giác không có gì bất ổn, cũng không điều trị.Đến mùa xuân năm nay, sau khi tham gia tiệc đêm với bạn trở về, đột nhiên cảm thấy đau bụng bên phải phía trên .Đến bệnh viện chuẩn đoán chụp siêu âm thấy gan có một khối u, liền chụp CT, chuẩn đoán chính xác là ung thư gan .Chuyên gia nói rằng .viêm gan B mãn tính gây ra triệu chứng vủa bệnh bị che dấu, có thể gọi nó là kẻ sát thủ thầm lặng, trong đó hơn 70% bệnh nhân viêm gan B thử nghiệm chức năng gan bình thường, không có triệu chứng.Có một số bệnh nhân thì triệu chứng như mệt mỏi, chướng bụng, buốn nôn nhưng lại ngộ nhận là do uống rượu hoặc do mất ngủ mà bị, nên chuẩn đoán và điều trị sai,điều này làm cho bệnh tình phát triển thành xơ gan và ung thư gan.

Người mang virut viêm gan B bất kể là có triệu chứng hay không, nhất định nên chú ý đi khám định kỳ;nên đến những bệnh viện chính quy thông qua kiểm tra định lượng DNA virut, kiểm tra định tính và kiểm tra các hạng mục, nếu DNA dương tính thì phải tích cực điều trị.Trong quá trình điều trị nên phối hợp với bác sĩ điều trị, như vậy bệnh tình với nhanh chóng hồi phục.
Xem thêm : phương pháp tốt nhất điều trị viêm gan b | bệnh viêm gan siêu vi b

Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2013

Dấu hiệu của bệnh viêm gan b nặng là gì?



Dấu hiệu của bệnh viêm gan b nặng là gì?

Gần đây,có rất nhiều bệnh nhân gọi điện đến tư vấn viem gan b nặng có những triệu chứng gì ? Trên lâm sàng thì viêm gan B được phân loại theo bệnh nặng và nhẹ.Có thể phân thành người mang virut viêm gan B,viêm gan B trong thời kỳ hoạt động ,viêm gan nặng ,xơ gan do viêm gan B.Nếu chúng ta nắm rõ về triệu chứng biểu hiện không giống nhau  của từng thời kỳ thì sẽ có lợi cho việc điều trị.Chúng tôi se giới thiệu chi tiết những triệu chứng này ở dưới đây.

triệu chứng viêm gan b nặng như thế nào?
Các chuyên gia của chúng tôi nói trên lâm sàng thì viêm gan B nặng có thể phân thành : viêm gan cấp tínhnghiêm trọng  ,viêm gan bán cấp nghiêm trọng và viêm gan B  mãn tính nghiêm trọng .Đối với triệu chứng biểu hiện thì cần có phân tích cụ thể với bệnh tình riêng.Dưới đây là giới thiệu  phân tích triệu chứng cụ thể


Viêm gan B nặng có những triệu chứng gì ?

1. Viêm gan cấp tính nghiêm trọng: chúng ta thường gọi là viêm gan có tính bạo phát  hoặc suy chức năng gan có tính bạo phát,một khi phát bệnh thường có triệu chứng vô cùng mệt mỏi ,sợ đồ dầu mỡ,hoàng đản nặng ,hạ đường huyết ;nghiêm trọng hơn có thể là chướng bụng ,sốc ,suy thận và hôn mê gan.

2. Viêm gan bán cấp nghiêm trọng có thể trở thành hoại tử gan bán cấp tính ,trên lâm sàng là do viêm gan hoàng đản cấp tính gây ra.Một khi phát bệnh sẽ có triệu chứng : triệu chúng về đường tiêu hóa,có xu hướng xuất huyết rõ rệt,bilirubin không ngừng tăng cao ,nghiêm trọng hơn có thể có triệu chứng hôn mê gan .

3. viêm gan b mãn tính nghiêm trọng một khi phát bệnh dẫn đến suy chức năng gan ở những mức độ không giống nhau,thậm chí còn tăng áp cổng tĩnh mạch,cản trở chức năng đông máu và bệnh não do gan .

Trên đây là giới thiệu chi tiết về triệu chứng viêm gan b ,các chuyên gia của phòng khám 12 Kim Mã của chúng tôi  khuyên bệnh nhân khi xuất hiện những triệu chứng này ,nhất định phải chú ý,sớm điều trị kịp thời ,tranh thủ sớm hồi phục sức khỏe.Đối với việc điều trị ,nhắc nhở bệnh nhân  không được điều trị mù quáng ,tránh tác dụng phụ.
Xem thêm : phương pháp tốt nhất điều trị viêm gan b | dieu tri benh viem gan b

Thứ Năm, 21 tháng 3, 2013

Bệnh gan B không có triệu chứng rõ ràng


Bệnh gan B không có triệu chứng rõ ràng

 Trong thực tế các chuyên gia đã từng nói benh gan b không có triệu chứng và biểu hiện rõ ràng mới thực sự nguy hiểm

Các chuyên gia nói :trước đây trong giới y học áp dụng viêm gan B 2 cặp rưỡi và chức năng gan để phán đoán bệnh tình của bệnh nhân, nếu chức năng gan bình thường thì không cần điều trị, nhưng trên lâm sàng những năm gần đây thì rất nhiều người mang virut viêm gan B không có triệu chứng và chức năng gan có vẻ như vẫn  bình thường, dẫn đến  bệnh tình biến hóa xấu đi .

Không thể dựa vào cảm giác viêm gan b không có triệu chứng mà phán đoán bệnh viem gan B như vậy rất dễ che giấu cho sự biến hóa của bệnh tình .

Có rất nhiều bệnh nhân mà đa sỗ trong đó trước khi phát hiện ra bệnh tình, cơ thể không có bất kỳ một triệu chứng gì, nhưng không có nghĩa là trong gan không tổn thương.Bệnh có thể âm thầm biến hóa, bệnh có thể biến hóa trong một thời gian dài sau đó đột nhiên bùng phát .Gan là một bộ máy trầm lặng, đa số bệnh nhân viêm gan bất luận là cơ thể có hay không có triệu chứng, thì mô gan đều có triệu chứng viêm hoặc xơ ở những mức độ khác nhau.

Trong thực tế kiểm tra sinh thiết gan của người mang virut, phát hiện ra đại đa số người mang virut là gan đã ở trong giai đoạn viêm nhẹ ; gan xơ hóa cũng là một ví dụ, mặc dù chức năng gan là bình thường .Đây là nguyên nhân bệnh tình vẫn đang trong giai đoạn hệ miễn dịch vẫn hoạt động nhưng tế bào miễn dịch không thể nhận dạng virut viêm gan B, cũng không thể công kích virut, lúc này chúng tạm thời  “chung sống hòa bình ”.Nhưng sau một thời gian viêm thì gan bị bào mòn, hầu như bệnh nhân đều phát bệnh từ thời thanh niên, trạng thái của người mang virut viêm gan B chủ yếu là giai đoạn viêm gan b  mãn tính . Vì vậy, dựa vào cảm giác của bản thân hoặc chức năng gan đơn giản mà phán đoán bệnh tình, sẽ có khả năng kéo dài bệnh tình, bỏ lỡ thời cơ chữa bệnh .

Có trường hợp bệnh nhân có bệnh sử 8 năm viêm gan B .Năm nay ông ấy 58 tuổi, mỗi năm kiểm tra chức năng gan đều bình thường,men gan hơi cao, có bác sĩ nói không sao,không cần điều trị, chú ý ăn uống và sinh hoạt là được .Bình thường ông cũng cảm giác không có gì bất ổn, cũng không điều trị.Đến mùa xuân năm nay, sau khi tham gia tiệc đêm với bạn trở về, đột nhiên cảm thấy đau bụng bên phải phía trên .Đến bệnh viện chuẩn đoán chụp siêu âm thấy gan có một khối u, liền chụp CT, chuẩn đoán chính xác là ung thư gan .Chuyên gia nói rằng .viêm gan B mãn tính gây ra triệu chứng vủa bệnh bị che dấu, có thể gọ nó là kẻ sát thủ thầm lặng, trong đó hơn 70% bệnh nhân viêm gan B thử nghiệm chức năng gan bình thường, không có triệu chứng.Có một số bệnh nhân thì triệu chứng như mệt mỏi, chướng bụng, buốn nôn nhưng lại ngộ nhận là do uống rượu hoặc do mất ngủ mà bị, nên chuẩn đoán và điều trị sai,điều này làm cho bệnh tình phát triển thành xơ gan và ung thư gan.

Người mang virut viêm gan B bất kể là có triệu chứng hay không, nhất định nên chú ý đi khám định kỳ;nên đến những bệnh viện chính quy thông qua kiểm tra định lượng DNA virut, kiểm tra định tính và kiểm tra các hạng mục, nếu DNA dương tính thì phải tích cực điều trị.Trong quá trình điều trị nên phối hợp với bác sĩ điều trị, như vậy bệnh tình với nhanh chóng hồi phục.
Xem thêm : giai doc gan | viêm gan c mãn tính | thuoc tri viem gan c | dieu tri viem gan c

Thứ Tư, 20 tháng 3, 2013

Phương pháp điều trị viêm gan B tốt nhất là gì?


Phương pháp điều trị viêm gan B tốt nhất là gì?

Thông qua điều tra chúng tôi phát hiện ra rằng có rất nhiều bệnh nhân do là đã nhiều lần sử dụng các phương pháp điều trị và các loại thuốc không giống nhau nên cuối cùng không thể chữa khỏi, từ đó mà từ bỏ điều trị, làm cho bệnh tình dần dần chuyển biến xấu đi, tính mạng bị đe dọa, chúng ta đều biết các bước phát triển của viêm gan B là từ viêm gan- xơ gan- ung thư gan, nếu như không khống chế kịp thời bệnh tình thì sẽ bị phát triển thành xơ gan và ung thư gan, suy giảm chức năng gan, đối mặt với sự đe dọa của cái chết.


Vấn đề về phương pháp tốt nhất để điều trị viêm gan b là gì chuyên gia của phòng khám chúng tôi cho biết: quá trình điều trị viem gan b là một hệ thống hoàn chỉnh, phương pháp điều trị tốt nhất là cần phải có tính khoa học, chuyên nghiệp, quy phạm, điều trị chính xác mới có thể có được hiệu quả điều trị tốt nhất, mới có thể được coi là phương pháp điều trị viêm gan B tốt nhất.

Phương pháp diều trị viêm gan B tốt nhất là gì?
Chuyên gia cho biết: điều trị viêm gan b mãn tính đầu tiên cần người bệnh phân tích bệnh tình chính xác, về cơ bản có thể hiểu rõ bệnh tình mới có thể lựa chọn được phương pháp điều trị và loại thuốc phù hợp với bệnh tình của bản thân, sau đó áp dụng phương án điều trị chính xác để tiến hành điều trị, như vậy sẽ nâng cao tỉ lệ chữa khỏi thành công viêm gan B. nhưng liệu pháp điều trị và loại thuốc chống virut viêm gan B truyền thống lại không thể làm một điểm, ví dụ về mặt lâm sàng thường dùng interferon, Adefovir dipivoxil, lamivudine, những loại thuốc này mặc dù đều là thuốc chống virut, nhưng để chữa trị viêm gan B lâm sàng thì lại không có hiệu quả rõ rệt, đa số bệnh nhân dùng thuốc này đều phát sinh biến dị virut hoặc tính nhờn thuốc, sau khi dừng dùng thuốc thì bệnh tình dễ dàng tái phát, nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng này là không hiểu rõ bệnh tình của bệnh nhân hay dùng thuốc không đúng.

Mà phòng khám chúng tôi có hệ thống kiểm tra virut PCR và liệu pháp chống virut đặc sắc, sau khi kiểm tra bệnh tính bệnh nhân một cách kĩ lưỡng bằng bằng máy móc tiên tiến như vận dụng hệ thống kiểm tra virut PCR, các chuyên gia sẽ phân tích bệnh tình của bệnh nhân và đưa ra loại thuốc điều trị thích hợp, đồng thời phối hợp với liệu pháp chống virut đặc sắc, các loại thuốc trực tiếp đưa đến vùng bị thương tổn, từ đó tiêu diệt triệt để virut viêm gan B, thời gian chuyển sang âm tính nhanh, tỉ lệ chữa khỏi cao.
Xem thêm : dieu tri gan nhiem mo | chua benh gan nhiem mo | dieu tri viem gan c

Thứ Hai, 18 tháng 3, 2013

Rối loạn gan


Rối loạn gan

Gan là cơ quan nội tạng lớn nhất trong cơ thể chức năng chính của nó là để:
• chuyển hóa hầu hết các chất dinh dưỡng được hấp thụ bởi ruột
• cửa hàng chất dinh dưỡng
• sản xuất protein
• giải độc trong máu bằng cách loại bỏ thuốc, rượu, và các hóa chất có khả năng gây hại trong máu và điều trị hóa học để họ có thể được bài tiết bởi hệ thống tiêu hóa hoặc hệ thống tiết niệu
Bởi vì gan có tiếp xúc gần gũi với các chất có hại, nó được bảo vệ chống lại bệnh tật trong hai cách chính. Đầu tiên, nó có thể tạo lại bản thân bằng cách sửa chữa hoặc thay thế mô bị thương. Thứ hai, gan có các đơn vị tế bào chịu trách nhiệm đối với nhiệm vụ tương tự. Do đó, nếu một khu vực bị tổn thương, các tế bào khác sẽ thực hiện các chức năng của phần bị thương không thời hạn hoặc cho đến khi thiệt hại đã được sửa chữa.

Các loại khác nhau của rối loạn gan bao gồm viêm gan, xơ gan, u gan, và áp xe gan (thu mủ). Tập trung ở đây sẽ có hai hình thức phổ biến nhất: viêm gan và xơ gan.
Viêm gan có nhiều loại bao gồm:
Viêm gan A là phổ biến nhất và dễ lây nhiễm nhất, lây lan dễ dàng từ người này sang người giống như hầu hết các virus khác. Nó ảnh hưởng đến hàng triệu người trên thế giới và chịu trách nhiệm cho hơn 2 triệu người chết mỗi năm.
viem gan b thu được thông qua tiếp xúc với máu bị nhiễm, dịch âm đạo hoặc tinh dịch. Người ta ước tính rằng khoảng 0,5% đến 1% dân số Canada có viêm gan B.
Viêm gan C ảnh hưởng đến khoảng 3,5 triệu người Bắc Mỹ. Khoảng 15% những người mắc bệnh viêm gan C có thể đã tiếp xúc với các sản phẩm máu bị nhiễm bệnh trước khi bắt đầu thử nghiệm máu phổ biến rộng rãi.
Viêm gan D là duy nhất bởi vì nó chỉ có thể ảnh hưởng đến những người đã có bệnh viêm gan B.
Loại thứ hai của rối loạn gan được gọi là xơ gan. Đó là một nguyên nhân chính gây tử vong ở nam giới Canada độ tuổi từ 25 đến 64. Xơ gan chủ yếu là ở nam giới.
Nguyên nhân của rối loạn gan
Viêm gan là một tình trạng viêm của gan có thể được gây ra bởi virus, rối loạn di truyền, và đôi khi một số thuốc hoặc chất độc như rượu và ma túy. Các nhà khoa học đã xác định được bốn loại chính của virus viêm gan: viêm gan A, viêm gan B, viêm gan C, viêm gan D. Viêm gan E cũng đã được tìm thấy nhưng loại này là không phổ biến.
Viêm gan A là hệ nước và lây lan chủ yếu qua nước thải và thực phẩm bị ô nhiễm và nước.
Viêm gan B lây truyền qua tiếp xúc với tinh dịch bị nhiễm, máu, hoặc dịch tiết âm đạo, và từ mẹ sang trẻ sơ sinh. viem gan b phổ biến nhất là lây lan qua quan hệ tình dục không an toàn và bằng cách chia sẻ kim tiêm nhiểm trùng (bao gồm cả những người được sử dụng để xâm mình, châm cứu, xỏ lỗ tai).
Viêm gan C lây lan qua tiếp xúc với máu máu trực tiếp.
Viêm gan D lây lan qua kim tiêm nhiễm và truyền máu.
Hiện nay việc hiến máu đã được sàng lọc và kiểm tra nên giảm thiểu nguy cơ lây truyền bệnh  viêm gan B, C do truyền máu.Tuy nhiên hai loại viêm gan này đều có thể lây truyền qua bàn chải đánh răng, dao cạo râu, đồ cắt móng tay.
Nguyên nhân chính của xơ gan do viêm gan siêu vi C mãn tính, tuy nhiên cũng có một số nguyên nhân khác gây viêm gan siêu vi C là :
• Uống nhiều rượu,bia trong một thời gian dài.
• Nhiễm trùng mãn tính với virus viêm gan B.
• Rối loạn chuyển hóa sắt và đồng.
• Do phản ứng với một số loại thuốc
• Mắc bệnh gan nhiễm mỡ do béo phì.
• Một số vùng nhiệt đới viêm gan siêu vi C còn do nhiễm phải một số vi khuẩn, vi trùng.
• Lặp đi lặp lại giai đoạn suy tim bị nghẽn mạch gan và tắc nghẽn ống dẫn mật.
Với xơ gan, mô gan bị phá hủy không thể phục hồi và dần dần như là kết quả của nhiễm trùng, thuốc độc, hoặc một số bệnh khác. Mô gan bình thường được thay thế bằng các vết sẹo và các khu vực của các tế bào gan tái sinh.
Triệu chứng và biến chứng của rối loạn gan.
Cả hai bệnh viêm gan và xơ gan đều có những dấu hiệu nhận biết. Trong giai đoạn cấp tính của hầu hết các hình thức của bệnh viêm gan, có những triệu chứng giống cúm như mệt mỏi, sốt, buồn nôn, mất cảm giác ngon miệng, và đau (thường là dưới xương sườn ở phía bên phải của bụng). Cũng có thể có một số vàng da (vàng da và lòng trắng của mắt).
Sau giai đoạn cấp tính, viêm gan A sẽ bị xóa khỏi cơ thể và miễn dịch suốt đời phát triển. Trong viêm gan B và C, các hạt virus có thể nán lại trong cơ thể sản xuất một nhiễm trùng mãn tính kéo dài trong nhiều năm. Điều này cuối cùng có thể dẫn đến xơ gan và, trong một số trường hợp, ung thư gan.
Các dấu hiệu và triệu chứng của xơ gan bao gồm:
• Đau bụng
• Người mệt mỏi
• Chảy máu đường ruột
• Ngứa
• Vàng da (vàng da và mắt)
• Ham muốn tình dục bị suy giảm.
• Buồn nôn và nôn.
• Xuất hiện những vết bầm tím ở dưới da.
• Sưng ở bụng và chân gây ra bởi sự tích lũy chất lỏng
• Giảm cân
Xem thêm : dieu tri gan nhiem mo | chua benh gan nhiem mo | thuoc tri viem gan c

Những bước tiến mới trong điều trị viêm gan b mãn tính


Những bước tiến mới trong điều trị viêm gan b mãn tính

Hiện nay đã có nhiều bước đi tiến bộ trong điều trị viêm gan B mãn tính, phương pháp mới này tập trung vào việc cá nhân hóa trong điều trị, đánh giá tình trạng cụ thể của từng bệnh nhân.


Viêm gan b là bệnh khá phổ biến vì dễ lây, có nguy cơ dẫn đến xơ gan và ung thư gan cao. Vấn đề hàng đầu đặt ra cho ngành y tế là làm sao để quản lý căn bệnh này hiệu quả. Do vậy, Hội Gan mật Việt Nam và Hội Gan mật TP.HCM phối hợp với một số đơn vị tổ chức hội thảokhoa học thường niên bệnh viêm gan lần thứ IV. Nội dung tập trung về những tiến bộ trong ngành xét nghiệm để quản lý bệnh viêm gan, đặc biệt là viêm gan B mạn tính.

Xét nghiệm để chuẩn đoán bệnh

GS Phạm Hoàng Phiệt, Chủ tịch Hội Gan mật TP.HCM, cho biết xét nghiệm đóng vai trò quan trọng và không thể thiếu trong việc kiểm soát bệnh, từ chẩn đoán sớm đến quản lý và theo dõi trong quá trình điều trị. Thông thường, khoảng 80% người bệnh sẽ không nhận ra bất kỳ triệu chứng đặc biệt nào cho đến khi gan bị tổn thương nghiêm trọng. Vì vậy, đa số bệnh nhân thường được chẩn đoán và chữa trị vào giai đoạn muộn. Nhiều người trong số họ thậm chí còn không biết bản thân mình đã bị nhiễm bệnh, thường bỏ qua những biểu hiện ban đầu của bệnh. Điều đó có thể khiến bệnh tiến triển nhanh hơn, khó điều trị và tỉ lệ tử vong cao. Hậu quả là ảnh hưởng tới việc điều trị, tốn kém và hiệu quả thấp. Đây là một trong những bất cập lớn tại Việt Nam, quốc gia có khoảng 15%-20% dân số bị nhiễm virus viêm gan B.

Hiện nay việc chẩn đoán bệnh được thực hiện bằng xét nghiệm máu, áp dụng cho cả những người không biểu hiện triệu chứng. Ngoài ra, xét nghiệm HBsAg cũng được thực hiện để xác nhận sự có mặt của kháng nguyên bề mặt virus viêm gan B. Ngày càng nhiều bằng chứng cho thấy với bệnh nhân viêm gan B mạn tính, nồng độ HBsAg (kháng nguyên bề mặt virus viêm gan B) tương quan gián tiếp với sự kiểm soát lây nhiễm. Mức HBsAg càng thấp thì sự kiểm soát lây nhiễm càng cao. Do vậy, đo lường số lượng HBsAg có thể giúp đánh giá việc cơ thể loại bỏ virus khỏi gan. Qua đó, bác sĩ xác định liệu cơ thể có đáp ứng với điều trị hay không. Đồng thời, các xét nghiệm HBV DNA được thực hiện để đo tải lượng virus có trong cơ thể, giúp xác định tốc độ virus nhân lên nhanh như thế nào.

Tình trạng miễn dịch của bệnh nhân luôn luôn được kiểm soát

Tại hội thảo, các chuyên gia đã trình bày phương pháp xét nghiệm miễn dịch Roche Elecsys® HBsAg II định lượng. Đây là bước tiến mới trong việc cá nhân hóa điều trị viêm gan B mạn tính. Xét nghiệm này đo lường số lượng HBsAg trong máu. Điều đó giúp các bác sĩ đánh giá được tình trạng kiểm soát miễn dịch của bệnh nhân; nguy cơ tiến triển từ viêm gan B sang bệnh xơ gan và ung thư gan. Từ đó thay đổi cách thức xử trí của bác sĩ đối với bệnh nhân viêm gan B mạn tính và đưa ra phương pháp điều trị phù hợp.

Ngoài ra, bệnh này còn lây truyền từ mẹ sang con; dùng chung kim tiêm với người bệnh; nhận máu truyền từ người bệnh; sinh hoạt tình dục; dụng cụ không tẩy trùng như khi làm răng, xăm mình, xỏ khuyên cơ thể... Khi mắc bệnh, một số người không biểu hiện triệu chứng nào cho đến khi gan bị tổn thương nghiêm trọng. Nếu có, bạn cần để ý một số triệu chứng như vàng da hoặc vàng mắt; nước tiểu sậm màu; mệt mỏi, uể oải; buồn nôn; ói mửa…

TS Đinh Quý Lan, Chủ tịch Hội Gan mật Việt Nam, chia sẻ: “Mục đích sau cùng của việc điều trị bệnh viêm gan B mạn tính là nhằm làm sạch hoàn toàn HBsAg. Hiện nay chúng ta có hai xét nghiệm bổ trợ nhau trong việc theo dõi điều trị bệnh viêm gan B mạn tính mà khi sử dụng kết hợp, cả hai xét nghiệm này sẽ giúp xác định liệu bệnh nhân có đáp ứng tốt với phương pháp điều trị hiện tại hay không và từ đó có thay đổi phù hợp. Những số liệu gần đây chứng minh cho thấy việc làm sạch HBsAg sẽ góp phần giảm sự tiến triển bệnh sang giai đoạn xơ gan và ung thư gan, do đó giúp người bệnh sống lâu hơn cũng như cải thiện chất lượng cuộc sống của họ”.
Xem thêm : viêm gan c mãn tính | thuoc tri viem gan c | dieu tri viem gan c

Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2013

Phương pháp điều trị viêm gan siêu vi B


Phương pháp điều trị bệnh viêm gan siêu vi b

viêm gan siêu vi B là căn bệnh rất nguy hiểm nếu không được phát hiện và chữa trị kịp thời. Hiện tại phòng khám 12 Kim Mã chúng tôi áp dụng rất nhiều phương pháp và công nghệ tiên tiến trên thế giới để chữa các căn bệnh về gan. Tuy nhiên tùy vào diễn biến của bệnh mà có cách điều trị phù hợp và đạt hiệu quả nhất có thể.

Liệu pháp kháng virus không được khuyến cáo trong giai đoạn viem gan b cấp bởi vì tình trạng nhiễm trùng tự thoái lui ở hấu hết bệnh nhân có triệu chứng.

Trong trường hợp bị viêm gan siêu vi B mạn tính có men gan tăng và số lượng siêu vi nhiều thì có chỉ định dùng thuốc ức chế siêu vi (như vậy không phải trường hợp HBsAg (+) nào cũng phải dùng thuốc ngay).


Mục đích trực tiếp của liệu pháp kháng virus là làm giảm sự sinh sản (ức chế HBeAg và HBV DNA trong máu) và cải thiện chức năng gan (ALT và AST về bình thường). Do đó, ngăn ngừa tổn thương và sẹo hóa mô gan, làm ngừng tiến trình đến xơ gan và ung thư gan.
Phương pháp điều trị bệnh viêm gan siêu vi b



Các nhóm thuốc điều trị viêm gan siêu vi B được FDA công nhận gồm:

1. Interferon alfa (1992)

2. Lamivudine (1998)

3. Adefovir dipivoxil (2003)

4. Entecavir (2005)

5. PEG-Interferon alfa 2a (2005)

6. Telbivudine (2006)

Xét nghiệm định lượng siêu vi B có thể thực hiện mỗi 3 -6 tháng để đánh giá sự đáp ứng với điều trị.Số lượng siêu vi B tốt nhất được thực hiện bằng xét nghiệm Real-time PCR do kỹ thuật này có khỏang dao động rộng từ 100 bản sao/mL đến 109 bản sao/mL.
Xem thêm : thuoc tri viem gan c | viêm gan c mãn tính | dieu tri viem gan c

Thứ Tư, 13 tháng 3, 2013

Điều trị viêm gan B như thế nào


Điều trị viêm gan B như thế nào

Tại sao bệnh viêm gan b lại được coi là một căn bệnh nguy hiểm ? và cách chua benh viem gan b như thế nào?

Đây là căn bệnh lây lan lặng lẽ, tiến triển âm thầm. Đa số người bị nhiễm siêu vi B đều không biết là mình bị nhiễm và có thể vô tình lây sang người khác qua đường máu. Đa số người lớn bị nhiễm đều có thể loại trừ siêu vi B dễ dàng. Tuy nhiên đa số trẻ sơ sinh và trẻ em bị nhiễm đều không thể loại trừ được siêu vi khuẩn này và sẽ trở thành người mang siêu vi B mạn tính. Cứ 4 người mang siêu vi B mạn tính sẽ có 1 người bị thiệt mạng do xơ gan và ung thư gan trong suốt cuộc đời của họ. Siêu vi B có thể thầm lặng tấn công gan trong nhiều năm mà bệnh nhân không hề hay biết. Đến khi bệnh nhân cảm thấy cần đi khám bệnh thì thường bệnh đã vào giai đoạn cuối. Nhiều bệnh nhân đã chết do ung thư gan vẫn không biết thủ phạm chính là siêu vi khuẩn B, bệnh viêm gan siêu vi b có thể phát hiện sớm một cách dễ dàng nhờ vào các xét nghiệm máu đơn giản. Việc phát hiện sớm viêm gan b mãn tính giúp gia tăng hy vọng ngăn ngừa biến chứng xơ gan và ung thư gan bằng cách khám sức khỏe định kỳ và điều trị với những loại thuốc đặc trị mới.

Có rất nhiều loại thuốc giúp dieu tri benh viem gan b

Điều trị viêm gan B như thế nào





Interferon:

Interferon có hai loại a và b trong đó interferon a là thuốc sử dụng khá rộng rãi trong điều trị VGB và viêm gan mạn tính hơn một thập kỷ nay. Cơ chế tác dụng kháng virut của interferon a đã được biết khá rõ. Tuy nhiên, tác dụng kháng virut này là không đặc hiệu và hiệu quả tác dụng cũng còn hạn chế. Nhiều nghiên cứu cho thấy sử dụng interferon a liều 3-5 triệu UI trong thời gian 4-6 tháng chỉ khoảng 30-40% chuyển đảo huyết thanh và khoảng 10% mất HBV-DNA. Tuy nhiên, sau ngừng thuốc một thời gian gần 5% bệnh nhân tái phát, xuất hiện HBV- DNA trở lại, mặt khác interferona nhiều tác dụng phụ, cần điều kiện bảo quản khá nghiêm ngặt (nhiệt độ từ 2 - 8oC), nên khi vận chuyển đi xa gặp nhiều khó khăn.

Lamivudin:

Là loại thuốc tương đồng nucleoside được  sử dụng dieu tri viem gan b mạn tính từ 10 năm nay.
Lamivudin cũng tương tự như các chất nucleoside gây ức chế quá trình tổng hợp DNA của virut. Sử dụng lamivudin liều 100mg hằng ngày sau 12 tháng thấy tỷ lệ chuyển đảo huyết thanh là 16 - 18% (so với nhóm giả dược chỉ có 4 - 6% chuyển đảo huyết thanh).
Tuy nhiên, người ta nhận thấy rằng hiện tượng kháng thuốc xảy ra tỷ lệ thuận với thời gian dùng thuốc. Sau 4 năm sử dụng tỷ lệ kháng thuốc lên tới 70% và hơn nữa, khả năng tái phát sau khi dùng thuốc là khá cao. Thuốc ít độc, dùng kéo dài gây tốn kém.

Adeforvir:

Cũng là thuốc thuộc nhóm tương đương nucleoside được sử dụng nhiều nước trên thế giới và được nhập vào Việt Nam từ tháng 11/2004. Thuốc có tác dụng ức chế sự nhân lên của virut. Người ta nhận thấy tỷ lệ kháng thuốc của adeforvir ngày càng cao và có những cơn bùng phát viêm gan cấp và nặng trên bệnh nhân ngừng thuốc.
Xem thêm : cách điều trị viêm gan b | dấu hiệu của bệnh viêm gan b

Nhiễm bệnh gan siêu vi B bạn cần biết phải làm gì?


Nhiễm bệnh gan siêu vi B bạn cần biết phải làm gì?

Hiện nay bệnh viêm gan siêu vi B là mối quan tâm sức khỏe toàn cầu khá quan trọng và còn là một trong các bệnh nhiễm siêu vi thường gặp nhất. Trên toàn thế giới có khoảng 2 tỉ người nhiễm siêu vi và hơn 350 triệu người bị nhiễm siêu vi viêm gan B mạn tính. Viêm gan B khá phổ biến ở các nước đang phát triển như Châu Phi, hầu hết Châu Á và Vùng Thái Bình Dương, Việt nam nằm trong vùng có tỉ lệ lây nhiễm cao. Mặc dù nhiều người bị nhiễm siêu vi viêm gan B mạn có thể sống lâu và khoẻ mạnh,  nhưng có 10-40% người sẽ bị viêm gan B tiến triển thành xơ gan và ung thư gan nếu không được điều trị sớm.
Bệnh viêm gan siêu vi b lây nhiễm bằng đường nào?
Bệnh viêm gan siêu vi  B lưu hành trong máu có thể lây nhiễm qua các đường sau:
1.      Mẹ lây truyền cho con khi trong quá trình chuyển dạ, đây là đường lây truyền quan trọng nhất
2.      Đường tình dục: Siêu vi viem gan B có thể lây qua hoạt động tình dục đồng giới hoạc khác giới
3.      Đường máu: Siêu vi viêm gan B lây nhiễm khi truyền máu hoặc chế phẫm của máu có nhiễm siêu vi; khi tiếp xúc với dịch tiết của bệnh nhân  viêm gan B; dùng kim tiêm có nhiễm siêu vi ; xăm mình châm cứu, xỏ lỗ tai với dụng cụ không được khử trùng đúng cách
 Điều gì sẽ xảy ra với gan khi nhiễm Viêm gan siêu vi b?
Khi bạn mới bị nhiễm, siêu vi viêm gan  B từ máu đi vào gan và tại đây nó xâm nhập vào các tế bào gan. Siêu vi sẽ sinh sôi nẩy nở trong các tế bào gan bị nhiễm và phóng thích các siêu vi mới ra ngoài để tiếp tục gây nhiễm cho các  tế bào gan khác. Bản thân siêu vi không trực tiếp làm tổn thương tế bào gan mà do hệ thống miễn dịch của cơ thể nhận diện các tế bào gan đã bị nhiễm và tấn công phá huỷ các tế bào này gây tổn thương gan. Khi tiến trình này tiếp diễn trong thời gian dài trong nhiều năm, mô gan bị tổn thương sẽ thành những mô sẹo có thể dẫn đến xơ gan  và suy gan, hơn nữa có một tỉ lệ diễn tíến ung thư gan.
            Tuy nhiên không phải người nào bị nhiễm siêu vi viêm gan B cũng sẽ bị nhiễm siêu vi hoạt động suốt đời . Một số người có khả năng lọai sạch siêu vi trước khi chuyển thành viêm gan B mạn tính, tình huống này xảy ra trong 6 tháng đầu tiên của nhiễm trùng đôi khi gây ra triệu chứng viêm gan  nặng  như vàng da, sốt, mệt mõi… được gọi là viêm gan cấp, cũng có một số người không có triêu chứng trong giai đọan này. Trên 90% người lớn có hệ miễn dịch lành mạnh, khỏe sẽ phục hồi sau đợt nhiễm siêu vi cấp tính chỉ có 10% chuyển thành người mang siêu vi mạn tính. Tuy nhiên nếu bạn nếu bị lây nhiễm từ mẹ lúc sinh thì 90% khả năng sẽ trở thành người mang bệnh mạn tính.
Bệnh viêm gan siêu vi B Cấp : có biểu hiện giống như cảm cúm, thỉnh thoảng có cảm giác buồn nôn, ói mữa, sụt cân, ăn kém ngon, ngứa khắp người. Có thể nặng hơn với triệu chứng sốt, vàng da, vàng mắt, đau bụng, đau khớp, đau cơ, nước tiểu có màu vàng sậm…
benh gan sieu vi b mạn: Giai đoạn này kéo dài nhiều năm, hầu như không có triêu chứng, người bệnh luôn cảm thấy sức khoẻ bình thường hoặc đôi khi có mệt mõi, chán ăn thoáng qua nhưng cuối cùng dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng như xơ gan, và các biến chứng như có nước trong ổ bụng, chảy máu đường tiêu hoá, ung thư. Một khi bệnh đã diễn tiến xơ gan thường khó hồi phục mặc dù tình trạng viêm gan được cải thiện. Vì vậy cần điều trị bệnh sớm nhằm ngăn ngừa họăc làm chậm quá trình xơ gan
Người lành mang mầm bệnh: khi cơ thể nhiễm siêu vi viêm gan B nhưng không có dấu hiệu viêm gan. Siêu vi có thể “chung sống hòa bình” với bạn suốt cuộc đời, tuy nhiên cũng có một lúc nào đó trở thành thủ phạm gây bệnh cho chính bạn và lây truyền cho người khác. Vì vậy bạn cần cảnh giác bằng cách đến gặp bác sĩ mỗi 3-6 tháng tùy trường hợp để được kiễm tra

   Nên làm gì khi bị nhiễm siêu vi Viêm gan B ?
  Khi phát hiện mình bị nhiễm siêu vi viêm gan B, trước tiên là bạn nên đến gặp bác sĩ chuyên khoa để được tư vấn kỹ về quá trình theo dõi và điều trị. Ngoài ra thay đổi lối sống cũng có thể một phần gíup bạn kiễm soát được viêm gan B vì một lối sống lành mạnh cũng giúp bảo vệ gan của bạn và ngăn ngừa sự tiến triễn đến xơ gan:
            Ăn uống hợp lý:  Chế độ ăn tốt nhất chỉ chứa vừa đủ chất dinh dưỡng và năng lượng thiết yếu tuy nhiên cũng không nên kiêng khem quá mức mà là cần cân đối, đa dạng đủ chất đạm, hạn chế chất béo, giảm muối, uống nhiều nước.
            Uống rượu khi đang bị viêm gan B có làm bệnh nặng hơn, càng uống rượu bạn càng đặt mình vào tình trạng nguy hiểm gây tổn thương gan  có thễ dẫn đến xơ gan kể cả ung thư gan
            Vận động để khỏe mạnh: Tập thể dục tuy không thải trừ được siêu vi ra ngoài nhưng có tác dụng gíup bạn giữ cơ thể khỏe mạnh. Bạn có thể đi bộ, tập bơi, yoga hoặc thái cực huyền. Tuy nhiên cần nhớ là không nên tập luyện quá sức vì có thể làm cho hệ miễn dịch của bạn yếu đi
            Bỏ hút thuốc lá : vì gan chịu trách nhiệm phân hủy các hoá chất độc hại và những chất nay gồm có các chất độc trong khói thuốc . Để giữ cho gan khoẻ mạnh và cải thiện tình trạng sức khoẻ  chung cho cơ thể bạn nên bỏ hút thuốc lá.
            Thận trọng khi điều trị với các thuốc và các loại thảo mộc vì một số trong các chất này được chuyển hoá tại gan, nếu sử dụng sẽ làm tăng gánh nặng cho gan của khi còn phải đối phó với nhiễm siêu vi viêm gan B. Cần lưu ý các thuốc kháng viêm không chứa steroid, acetaminophen và các thuốc từ thảo mộc có thể gây độc cho gan vì vậy khi cần sử dụng phải hỏi ý kiến của thầy thuốc.
Nên làm thế nào để tránh lây nhiễm cho người khác
Khi được phát hiện bị nhiễm siêu vi viêm gan B nguy cơ lây nhiễm cho những người chung quanh nhất là  người thân cũng là mối quan tâm cần thiết. Trước hết những người thân như cha mẹ, anh em ruột, vợ chồng, con cái cần được xét nghiệm để tầm soát có bị nhiễm siêu vi viêm gan B chưa.
 Phụ nữ mang thai có nhiễm  siêu vi viêm gan B với HBe dương tính có nguy cơ lây nhiễm cho trẽ khi sinh là 90% vì vậy cần phải được xét nghiệm HBsAg khi có thai và nếu bà mẹ bị nhiễm cần được đến Bác sĩ chuyên khoa tư vấn điều trị phòng ngừa lây nhiễm và chích ngừa cho trẻ sơ sinh tropng vòng 24 giờ đầu dau sinh.
  Nếu chưa bị nhiễm tốt nhất nên được chủng ngừa vaccin. Người mang mầm bệnh cần có biện pháp đề phòng như không dùng chung các vật dụng cá nhân có nguy cơ lây nhiễm như: bàn chải đánh răng, dao cạo râu, dụng cụ cắt móng tay…; tránh làm vây máu khi bi vết thương, hay lau sạch máu bằng thuốc sát trùng. Nên sử dụng biện pháp bảo vệ khi quan hệ tình dục.
Khi biết mình bị nhiễm siêu vi viêm gan B có thể bạn sẽ mang tâm trạng lo lắng nhiều, thường bị áp lực về tâm lý, tốt nhất nên gặp và trao đổi với bác sĩ chuyên khoa để được hướng dẫn  chọn lựa  cách điều trị nào tốt nhất để bảo vệ gan của bạn.
Xem thêm : benh gan B | dieu tri benh viem gan b 

Thứ Năm, 7 tháng 3, 2013

Kiểm soát bệnh gan B


Kiểm soát benh gan B

Khả năng lây nhiễm vi-rút viem gan B cao hơn vi-rút HIV

Bệnh gan B có khả năng lây nhiễm cao gấp 50-100 lần so với vi-rút HIV. Nếu không được điều trị kịp thời, viêm gan B có thể dẫn đến xơ gan và ung thư gan.

Gần 1/3 dân số thế giới từng bị nhiễm vi-rút viêm gan B (HBV) và khoảng 350 triệu người (5%) hiện đang bị viêm gan B mạn tính. Tại Việt Nam, việc lây nhiễm viêm gan B là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh gan mạn tính với tỷ lệ cao, đã được dự đoán tăng từ 6.4 triệu trường hợp vào năm 1990 lên 8.4 triệu trường hợp ở năm 2005; nếu không tiêm phòng, con số này dự kiến sẽ tiếp tục tăng đến hơn 10 triệu vào năm 2025.

Ước tính khoảng 20% dân số Việt Nam bị nhiễm vi-rút viêm gan B. Trong số đó, có từ 4 - 5 triệu người bị xơ gan hoặc ung thư gan, và từ 25 - 45% người mắc benh gan B mạn tính có nguy cơ tử vong sớm. Để đảm bảo đạt kết quả điều trị tốt, việc phát hiện sớm và theo dõi quá trình điều trị là rất quan trọng.

Có thể cá nhân hóa điều trị và xử trí bệnh?

GS.BS. Phạm Hoàng Phiệt, Chủ tịch Hội Gan Mật TPHCM cho biết: “Xét nghiệm đóng vai trò quan trọng và không thể thiếu trong việc kiểm soát bệnh viêm gan vi-rút B, từ chẩn đoán sớm đến xử trí và theo dõi trong quá trình điều trị. Thông thường, có khoảng 80% người bệnh sẽ không nhận ra bất kỳ triệu chứng viêm gan B đặc biệt nào cho đến khi gan bị tổn thương nghiêm trọng; vì vậy, đa số bệnh nhân thường được chẩn đoán và chữa trị vào giai đoạn muộn (nhiều người trong số họ thậm chí còn không biết bản thân mình đã bị nhiễm bệnh hay thường bỏ qua những biểu hiện ban đầu của bệnh); điều đó có thể khiến bệnh tiến triển nhanh hơn, khó điều trị và tỷ lệ tử vong cao. Hậu quả là, ảnh hưởng tới việc điều trị khó khăn, tốn kém và hiệu quả thấp! Đây là một trong những bất cập lớn tại Việt Nam, quốc gia có khoảng 15 đến 20% dân số bị nhiễm vi-rút viêm gan B”.

Ngày càng nhiều bằng chứng cho thấy đối với bệnh nhân viêm gan B mãn tính, nồng độ HBsAg tương quan gián tiếp với sự kiểm soát lây nhiễm – mức HBsAg càng thấp thì sự kiểm soát lây nhiễm càng cao.

Tuy nhiên, phương pháp chẩn đoán bệnh viêm gan B chủ yếu là thông qua xét nghiệm máu và việc đi xét nghiệm máu thường xuyên tại bệnh viện, nhất là đối với bệnh nhân ở xa, không phải là một việc dễ dàng.

Trong khi đó, xét nghiệm chính là chỉ số đo lường số lượng kháng nguyên bề mặt của vi-rút viêm gan B (HBsAg) giúp đánh giá mức độ kiểm soát miễn dịch của cơ thể đối với vi-rút, qua đó xác định liệu bệnh nhân có đáp ứng với điều trị hay không. Xét nghiệm này có ý nghĩa quan trọng trong công tác theo dõi điều trị của các bác sĩ, giúp họ đánh giá được tình trạng kiểm soát miễn dịch của bệnh nhân, nguy cơ tiến triển từ viêm gan B sang bệnh xơ gan và ung thư gan và từ đó thay đổi cách thức xử trí phù hợp đối với bệnh nhân.

Do đó, một xét nghiệm máu như xét nghiệm Roche Elecsys® HBsAg II định lượng, sẽ giúp định lượng kháng nguyên bề mặt vi-rút sẽ giúp cá nhân hóa việc xử trí và điều trị đối với các bệnh nhân viêm gan B mãn tính.

Ngoài việc theo dõi đáp ứng điều trị, định lượng HBsAg kết hợp với định lượng HBV DNA có thể được sử dụng để phân biệt những người mang vi-rút không hoạt động với những người bệnh đang tiến triển, qua đó xác định rõ hơn những ai cần điều trị và theo dõi thường xuyên với những người không cần điều trị. Hơn thế nữa, khi kết hợp mức nồng độ HBV DNA, nồng độ HBsAg có thể giúp các bác sĩ dự đoán tốt hơn khả năng tiến triển của bệnh viêm gan B mạn tính thành ung thư gan, và thực sự tạo ra cuộc cách mạng trong việc cá nhân hóa điều trị đối với viêm gan B mãn tính trong y học hiện đại.
Xem thêm : benh gan B | dieu tri benh viem gan b

Thứ Ba, 5 tháng 3, 2013

BỆNH VIÊM GAN B


Viêm gan b
Nhiều người bị nhiễm bệnh thường không cảm thấy có triệu chứng gì và thậm chí không biết là mình nhiễm bệnh.

Bệnh viem gan B có ảnh hưởng như thế nào?

Nhiều người mắc bệnh viêm gan B mãn tính thường không có triệu chứng gì và vẫn sinh hoạt bình thường. Tuy nhiên, một số người bị tổn thương gan do bệnh viêm gan B, đặc biệt là nếu họ đã mắc bệnh trong nhiều năm hoặc hàng chục năm. Khoảng một phần tư số người mắc bệnh viêm gan B có thể bị tổn thương gan nghiêm trọng. Trong đa số các trường hợp nghiêm trọng, bệnh viêm gan B có thể gây ung thư gan và suy gan.

Bệnh viêm gan B lây lan như thế nào?

Viêm gan B là căn bệnh viêm nhiễm do máu, điều đó có nghĩa là có siêu vi gây bệnh trong máu và chất dịch cơ thể của những người mắc bệnh. Nếu máu hoặc chất dịch cơ thể nhiễm HBV xâm nhập vào cơ thể của quy vị qua vết cắt hoặc chỗ hở khác, quy vị rất dễ có nguy cơ mắc bệnh.

HBV là loại siêu vi sống rất dai; thậm chí chúng còn có thể sống trong máu khô trong nhiều ngày! Chính vì vậy rất dễ nhiễm HBV nếu bạn sinh hoạt tình dục không có biện pháp bảo vệ với một người đã nhiễm bệnh hoặc nếu máu hoặc chất dịch cơ thể có siêu vi HBV đã tiếp xúc với một vết thương hở miệng hoặc da bị bong. Chính vì vậy những em bé sinh ra đã có mẹ mắc bệnh, dễ có nguy cơ mắc bệnh vì các em tiếp xúc với chất dịch cơ thể của người mẹ trong khi sinh.

HBV cũng lây lan dễ dàng qua dụng cụ y tế, ví dụ như kim tiêm và ống tiêm sử dụng lại hoặc không tiệt trùng đúng cách. HBV cũng có thể lây lan qua lượng máu nhỏ trong dụng cụ chích ma túy, cottons, và các dụng cụ khác được dùng để chích ma túy.

Các vật dụng khác tiếp xúc với máu và có thể làm lây lan siêu vi là dao cạo râu, bông tai hoặc bàn chải đánh răng, và các dụng cụ để xăm mình và xâu khuyên trên người.

Cách ngừa bệnh viêm gan B

Có một loại siêu vi rất an toàn và hiệu quả, có thể ngừa bệnh viêm gan B. Loại thuốc này được cho dùng theo đợt ba mũi chích ngừa. Các viên chức y tế khuyến cáo nên chích ngừa loại thuốc này cho trẻ sơ sinh khi ra đời, và tất cả những trẻ em và thanh thiếu niên đều nên đi chủng ngừa. Họ cũng khuyến cáo rằng những người lớn dễ có nguy cơ mắc bệnh viêm gan B do công việc hoặc tiếp xúc với người bạn tình hoặc người nhà đã mắc bệnh đều nên đi chủng ngừa.

Nhờ có chủng ngừa, tỷ lệ mắc viêm gan B mãn tính tại Hoa Kỳ đã giảm 78% trong 15 năm qua. Tuy nhiên, bệnh HBV vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất trong số những người lớn không đi chủng ngừa, số người này chiếm 95% trong số khoảng 51,000 trường hợp mới mắc bệnh HBV trong năm 2005. Chính vì vậy việc người lớn đi chủng ngừa là rất quan trọng.

Ngoài ngăn ngừa, chúng ta còn có thể ngừa HBV bằng cách áp dụng các biện pháp sau đây:

- Không bao giờ dùng chung bàn chải, dao cạo râu, bông tai hoặc dụng cụ khác có thể đã tiếp xúc với máu hoặc chất dịch cơ thể.

- Băng ngay các vết cắt hoặc vết bầm tím để tránh tiếp xúc với máu.

- Không bao giờ chạm vào máu hoặc chất dịch của bất kỳ người nào mà không dùng dụng cụ bảo vệ giữa bạn và chất có thể đã nhiễm siêu vi gây bệnh.

- Bảo đảm rằng trẻ em sinh ra đã có mẹ mắc bệnh đều được chủng ngừa ngay, và được điều trị bằng globulin miễn dịch viêm gan B (HBIG). Đây là các chất có các kháng thể của viêm gan B để giúp ngừa bệnh

Xem thêm: viêm gan siêu vi B | phương pháp tốt nhất điều trị viêm gan b